Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT sửa đổi Thông tư 27 về đánh giá học sinh tiểu học
Cập nhật lúc: 20/10/2026 2327
Cập nhật lúc: 20/10/2026 2327
Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT là văn bản được bạn cung cấp, có nội dung sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT, đồng thời sửa đổi, bổ sung một số quy định về đánh giá học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông tại Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT. Đối với giáo viên tiểu học, văn bản này đáng chú ý ở những nội dung liên quan đến Học bạ số, hồ sơ đánh giá, bàn giao kết quả giáo dục giữa các lớp, xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học, trách nhiệm của nhà trường và cơ quan quản lý giáo dục, cũng như cách đánh giá học sinh khuyết tật.
Bài viết dưới đây tập trung phân tích phần sửa đổi liên quan đến giáo dục tiểu học, làm rõ nội dung quy định, ý nghĩa đối với công tác chuyên môn và những việc giáo viên cần lưu ý khi tổ chức thực hiện. Các nội dung về trung học cơ sở và trung học phổ thông chỉ được đề cập khi cần phân biệt phạm vi của văn bản, nhằm giúp người đọc hiểu đúng trọng tâm và tránh nhầm lẫn khi vận dụng.
Lưu ý quan trọng về tính pháp lý: Tài liệu được cung cấp ghi ngày ban hành 16/10/2026 và số hiệu 89/2026/TT-BGDĐT. Do đây là văn bản có thời điểm ban hành rất mới, các thông tin về hiệu lực, tình trạng công bố chính thức và hướng dẫn triển khai cần được đối chiếu với nguồn chính thức của Bộ Giáo dục và Đào tạo trước khi sử dụng làm căn cứ pháp lý trong nhà trường. Bài viết phân tích theo nội dung thể hiện trong bản PDF được cung cấp, không mặc nhiên khẳng định tài liệu đã được xác thực độc lập trên hệ thống văn bản pháp luật.
Công tác đánh giá học sinh tiểu học không chỉ dừng lại ở việc xác định kết quả học tập sau mỗi giai đoạn mà còn liên quan trực tiếp đến việc theo dõi sự tiến bộ, điều chỉnh phương pháp dạy học, hỗ trợ học sinh và hoàn thiện hồ sơ giáo dục. Vì vậy, bất kỳ văn bản nào sửa đổi quy định về đánh giá học sinh đều có thể tác động đến công việc hằng ngày của giáo viên, đặc biệt là giáo viên chủ nhiệm, giáo viên bộ môn và cán bộ quản lý nhà trường.
Theo thông tin được Báo Điện tử Chính phủ đăng tải ngày 20/10/2026, Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT được ban hành nhằm đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý kết quả đánh giá học sinh, phù hợp với mô hình tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, đồng thời tăng cường tính khách quan, công bằng và thực chất trong kiểm tra, đánh giá. Đây là định hướng quan trọng để hiểu các nội dung sửa đổi liên quan đến Học bạ số, trách nhiệm quản lý dữ liệu và việc tổ chức kiểm tra định kỳ.
Đối với giáo viên, việc đọc văn bản cần được thực hiện theo hướng phân biệt rõ ba vấn đề: quy định nào được sửa đổi trực tiếp, quy định nào tiếp tục được áp dụng theo văn bản trước đó và nội dung nào cần chờ hướng dẫn triển khai cụ thể. Cách tiếp cận này giúp hạn chế tình trạng hiểu rằng toàn bộ quy trình đánh giá học sinh tiểu học đã thay đổi, trong khi văn bản chỉ sửa đổi, bổ sung một số điều nhất định.
Theo bản PDF được cung cấp, Chương I của Thông tư 89 tập trung sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT. Những nội dung được điều chỉnh trải rộng từ khái niệm tổng hợp kết quả đánh giá, đánh giá học sinh khuyết tật, hồ sơ đánh giá, Học bạ số đến trách nhiệm của giáo viên, hiệu trưởng và cơ quan quản lý giáo dục.
Điều này có nghĩa là khi thực hiện nhiệm vụ chuyên môn, giáo viên không nên chỉ đọc riêng Thông tư 89 rồi bỏ qua Thông tư 27. Cần đặt các điều khoản sửa đổi vào đúng vị trí trong quy định hiện hành để hiểu nội dung nào được thay thế, nội dung nào được bổ sung và nội dung nào vẫn thực hiện theo quy định cũ.
Một ví dụ dễ thấy là các nguyên tắc đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ và yêu cầu theo dõi sự tiến bộ của học sinh không thể được xem là đã bị xóa bỏ chỉ vì văn bản mới tập trung nhiều hơn vào dữ liệu điện tử. Thông tư sửa đổi cần được đọc như một phần của hệ thống quy định, thay vì một văn bản độc lập có thể sử dụng để thay thế toàn bộ văn bản nền tảng.
Bản PDF gồm 10 trang, trong đó Chương I, từ trang 1 đến trang 5, trình bày các nội dung sửa đổi liên quan đến đánh giá học sinh tiểu học. Chương II, từ trang 5 đến trang 9, đề cập đến đánh giá học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông; Chương III quy định về điều khoản thi hành và chuyển tiếp ở các trang cuối.
Bài viết tập trung vào những quy định thuộc Chương I vì đây là phần trực tiếp liên quan đến giáo viên tiểu học. Những vấn đề như kiểm tra trên máy tính ở cấp trung học, đánh giá lại kết quả học tập trong kỳ nghỉ hè của học sinh trung học hoặc quy định riêng đối với trường chuyên sẽ không được diễn giải thành nghĩa vụ của giáo viên tiểu học nếu văn bản không quy định như vậy.
Có thể khái quát các nội dung sửa đổi thành những nhóm vấn đề lớn: chuyển đổi số trong hồ sơ đánh giá, xác định rõ trách nhiệm cập nhật và xác nhận dữ liệu, tổ chức bàn giao kết quả giáo dục, đánh giá học sinh khuyết tật, đánh giá học sinh học tại lớp dành cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn và tăng cường trách nhiệm quản lý, kiểm tra.
Các nhóm nội dung này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Khi hồ sơ đánh giá được chuyển sang môi trường số, yêu cầu về tính chính xác, tính đầy đủ và trách nhiệm của từng người tham gia quy trình trở nên đặc biệt quan trọng; đồng thời, việc chuyển giao dữ liệu giữa các lớp và các cấp học cần được tổ chức thống nhất hơn.
Một nội dung nổi bật trong văn bản là sửa đổi quy định về hồ sơ đánh giá từng năm học của mỗi học sinh. Theo Điều 4 của bản PDF, hồ sơ đánh giá gồm Học bạ số và Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp.
Điểm đáng chú ý là Học bạ số không chỉ được nhắc đến như một phương tiện lưu trữ thông tin mà còn gắn với quy trình cập nhật nhận xét, kết quả tổng hợp đánh giá giáo dục và thành tích được khen thưởng trong năm học. Điều này cho thấy hồ sơ đánh giá được định hướng theo cách quản lý dữ liệu có hệ thống, giúp thông tin về quá trình học tập và rèn luyện của học sinh được lưu giữ, khai thác và chuyển giao theo quy định.
Với giáo viên tiểu học, thay đổi này đòi hỏi sự cẩn trọng hơn khi nhập dữ liệu, hoàn thiện nhận xét và phối hợp xác nhận kết quả. Một thông tin sai trong hồ sơ điện tử không chỉ là lỗi trình bày mà còn có thể ảnh hưởng đến tính thống nhất giữa Học bạ số, bảng tổng hợp kết quả đánh giá của lớp và dữ liệu quản lý của nhà trường.
Theo quy định được sửa đổi, Học bạ số phản ánh đầy đủ nội dung đánh giá học sinh theo Phụ lục 1, còn Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp được lập theo Phụ lục 2 và lưu trữ tại nhà trường. Hai thành phần này có chức năng liên quan nhưng không nên được hiểu là một tài liệu có thể tùy ý thay thế cho nhau.
Học bạ số gắn với hồ sơ đánh giá của từng học sinh, trong khi bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp giúp nhà trường quản lý thông tin đánh giá ở phạm vi tập thể lớp. Việc duy trì cả hai thành phần tạo cơ sở để đối chiếu dữ liệu, kiểm tra tính đầy đủ và phát hiện sai lệch trước khi xác nhận kết quả cuối năm.
Trong thực tế, giáo viên có thể gặp tình huống kết quả của một môn học đã được cập nhật trên hệ thống nhưng chưa thống nhất với bảng tổng hợp của lớp. Khi đó, cách xử lý phù hợp là kiểm tra nguồn dữ liệu, xác định người chịu trách nhiệm đối với phần thông tin liên quan và thực hiện điều chỉnh theo quy trình được nhà trường hướng dẫn, thay vì tự sửa ở nhiều nơi mà không có sự đối chiếu.
Điều 3 của bản PDF sửa đổi điểm b khoản 2 Điều 9 theo hướng cập nhật nhận xét, kết quả tổng hợp đánh giá giáo dục và các thành tích của học sinh được khen thưởng trong năm học vào Học bạ số.
Nội dung này nhấn mạnh yêu cầu lưu giữ thông tin đánh giá và thành tích học sinh trong một hồ sơ điện tử thống nhất. Thay vì chỉ chú ý đến kết quả đánh giá tại một thời điểm, giáo viên cần bảo đảm các thông tin thuộc phạm vi trách nhiệm của mình được cập nhật đầy đủ, chính xác và phù hợp với kết quả đã được xác nhận.
Đối với giáo viên chủ nhiệm, việc cập nhật nhận xét cần gắn với quá trình theo dõi học sinh trong năm học, tránh tình trạng đến cuối năm mới tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn mà không kiểm tra lại. Đối với thành tích khen thưởng, thông tin đưa vào hồ sơ phải phù hợp với kết quả khen thưởng thực tế, tránh ghi nhận theo trí nhớ hoặc theo danh sách chưa được xác nhận.
Ví dụ, nếu học sinh đạt thành tích trong một cuộc thi do nhà trường tổ chức và được công nhận khen thưởng, giáo viên cần kiểm tra thông tin chính thức trước khi cập nhật vào hồ sơ. Nếu có sự khác nhau về tên thành tích, thời điểm hoặc phạm vi công nhận giữa các nguồn dữ liệu, cần phối hợp với bộ phận phụ trách để xác minh thay vì tự suy đoán nội dung cần ghi.
Theo nội dung được Báo Điện tử Chính phủ công bố, giáo viên môn học chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu kết quả học tập thuộc môn học, hoạt động giáo dục được phân công và trực tiếp ký số xác nhận kết quả môn học đó. Giáo viên chủ nhiệm ký số xác nhận Học bạ số của lớp sau khi giáo viên môn học đã hoàn thành ký số.
Quy định này có ý nghĩa thực tiễn lớn bởi quá trình hoàn thiện Học bạ số liên quan đến nhiều người, không chỉ riêng giáo viên chủ nhiệm. Khi trách nhiệm được phân định theo phần việc, mỗi giáo viên cần chịu trách nhiệm đối với dữ liệu mình trực tiếp đánh giá và xác nhận, trong khi giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm kiểm tra tính hoàn thiện của hồ sơ lớp theo quy trình được quy định.
Điều cần nhấn mạnh là việc ký số không nên được coi như một thao tác kỹ thuật cuối cùng nhằm hoàn thành thủ tục. Ký số gắn với trách nhiệm xác nhận thông tin, vì vậy người thực hiện cần kiểm tra kết quả, đối chiếu dữ liệu và bảo đảm mình có căn cứ chuyên môn trước khi xác nhận.
Trong trường hợp giáo viên phát hiện dữ liệu chưa chính xác, chẳng hạn kết quả môn học chưa được cập nhật đầy đủ hoặc thông tin nhận xét chưa thống nhất với kết quả đánh giá, cần xử lý theo quy trình điều chỉnh được nhà trường hướng dẫn. Không nên ký xác nhận trước rồi mới tìm cách sửa chữa, bởi cách làm đó có thể tạo ra những sai lệch không cần thiết trong hồ sơ chính thức.
Điều 5 của văn bản sửa đổi khoản 2 Điều 11, quy định học sinh hoàn thành chương trình lớp 5 được xác nhận trong Học bạ số với nội dung “Hoàn thành chương trình tiểu học”.
Quy định này liên kết kết quả hoàn thành chương trình tiểu học với hồ sơ điện tử của học sinh. Đây là một khâu quan trọng trong quá trình chuyển tiếp từ cấp tiểu học lên trung học cơ sở, bởi thông tin xác nhận hoàn thành chương trình là căn cứ quản lý giáo dục cần được ghi nhận chính xác và có thể khai thác theo quy định.
Giáo viên chủ nhiệm lớp 5 cần chú ý đến sự thống nhất giữa kết quả đánh giá cuối năm, hồ sơ của học sinh và dữ liệu Học bạ số. Nhà trường cần có quy trình kiểm tra trước khi xác nhận, nhằm hạn chế tình trạng thiếu thông tin, sai thông tin hoặc chưa hoàn thành các bước chuyên môn nhưng đã thực hiện thao tác xác nhận cuối cùng.
Cần phân biệt rõ việc xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học với việc tuyển sinh vào lớp 6. Thông tư được cung cấp quy định về xác nhận và bàn giao kết quả giáo dục, đồng thời nêu việc tuyển sinh lớp 6 thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; do đó, không nên suy diễn rằng chỉ riêng nội dung xác nhận trên Học bạ số đã giải quyết toàn bộ các điều kiện tuyển sinh ở cấp học tiếp theo.
Điều 6 của bản PDF sửa đổi khoản 2 và khoản 3 Điều 12, nhấn mạnh trách nhiệm của hiệu trưởng trong việc tổ chức nghiệm thu, bàn giao kết quả giáo dục học sinh, hồ sơ đánh giá và dữ liệu Học bạ số. Đồng thời, hiệu trưởng phải bảo đảm kết quả đánh giá đầy đủ, chính xác, kịp thời và thống nhất giữa hồ sơ đánh giá, Học bạ số và dữ liệu quản lý của nhà trường.
Điểm quan trọng ở đây là việc bàn giao không chỉ là chuyển một tập hồ sơ hoặc hoàn thành một biểu mẫu cuối năm. Bàn giao kết quả giáo dục là quá trình chuyển tiếp thông tin chuyên môn, trong đó dữ liệu phải phản ánh đúng tình hình học tập và rèn luyện của học sinh, đồng thời giúp giáo viên tiếp nhận có căn cứ để tiếp tục theo dõi và hỗ trợ.
Hiệu trưởng không nhất thiết phải trực tiếp thực hiện mọi thao tác nhập dữ liệu, nhưng có trách nhiệm tổ chức, kiểm tra và bảo đảm quy trình vận hành đúng quy định. Vì vậy, nhà trường cần xác định rõ các bước thực hiện, người phụ trách, thời điểm hoàn thành và cách xử lý khi phát hiện sai lệch.
Đối với học sinh lớp 1, lớp 2, lớp 3 và lớp 4, văn bản yêu cầu giáo viên chủ nhiệm trao đổi với giáo viên sẽ nhận học sinh trong năm học tiếp theo về những nét nổi bật hoặc hạn chế của học sinh. Đồng thời, giáo viên bàn giao kết quả giáo dục, hồ sơ đánh giá và dữ liệu Học bạ số để tiếp tục theo dõi, đánh giá và hỗ trợ học sinh.
Đây là một nội dung có ý nghĩa trực tiếp đối với tính liên tục của quá trình giáo dục. Nếu giáo viên năm học trước chỉ bàn giao kết quả tổng hợp mà không làm rõ những điểm học sinh đã tiến bộ, những kỹ năng còn hạn chế hoặc những nội dung cần tiếp tục hỗ trợ, giáo viên năm học sau sẽ mất thêm thời gian tìm hiểu và có thể bỏ lỡ giai đoạn hỗ trợ phù hợp.
Chẳng hạn, một học sinh lớp 2 có thể đã đọc đúng phần lớn các tiếng nhưng vẫn đọc chậm khi gặp câu dài; một học sinh khác có thể thực hiện phép tính chính xác nhưng gặp khó khăn khi giải toán có lời văn. Những thông tin chuyên môn cụ thể như vậy giúp giáo viên lớp tiếp theo lựa chọn nhiệm vụ học tập phù hợp, thay vì chỉ nhìn vào nhận xét tổng quát hoặc kết quả cuối năm.
Tuy nhiên, trao đổi khi bàn giao phải dựa trên dữ liệu và quan sát giáo dục có căn cứ, không biến thành việc gắn nhãn học sinh bằng những nhận xét thiếu khách quan. Các thông tin về hạn chế cần được trình bày theo hướng xác định nhu cầu hỗ trợ, chỉ rõ biểu hiện thực tế và giúp giáo viên tiếp nhận có phương án tiếp tục phát triển năng lực cho học sinh.
Đối với học sinh lớp 5, văn bản quy định hiệu trưởng tổ chức kiểm tra, đánh giá định kỳ cuối năm học; thực hiện chấm, nhận xét và tổng hợp kết quả theo quy định. Giáo viên chủ nhiệm hoàn thiện hồ sơ đánh giá và dữ liệu Học bạ số, sau đó nhà trường tổ chức nghiệm thu, xác nhận kết quả, xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học và bàn giao hồ sơ, dữ liệu phục vụ chuyển cấp, chuyển trường, lưu trữ, khai thác và sử dụng.
Quy định này cho thấy quy trình cuối cấp cần có sự phối hợp giữa hoạt động chuyên môn của giáo viên và trách nhiệm quản lý của nhà trường. Việc đánh giá, chấm bài, tổng hợp kết quả, hoàn thiện hồ sơ và xác nhận hoàn thành chương trình là những khâu có liên quan nhưng không đồng nhất, vì vậy cần được thực hiện theo trình tự và có sự kiểm tra trước khi hoàn tất.
Đối với giáo viên chủ nhiệm lớp 5, việc chuẩn bị hồ sơ nên được thực hiện theo tiến độ trong năm học, thay vì dồn toàn bộ công việc vào những ngày cuối năm. Cách làm chủ động giúp giáo viên có thời gian đối chiếu kết quả các môn học, kiểm tra nhận xét, xác minh thông tin khen thưởng và phối hợp xử lý các trường hợp dữ liệu còn thiếu.
Đối với hiệu trưởng, cần bảo đảm quy trình nghiệm thu không chỉ tập trung vào việc hồ sơ đã có đủ trường thông tin hay chưa. Điều quan trọng hơn là dữ liệu phải phản ánh đúng kết quả đánh giá đã được thực hiện, được xác nhận bởi người có trách nhiệm và thống nhất với hồ sơ quản lý của nhà trường.
Một điểm cần đặc biệt lưu ý là bản PDF nêu rõ việc nghiệm thu, bàn giao kết quả giáo dục khi chuyển cấp là hoạt động chuyển giao dữ liệu quản lý giữa nhà trường và cơ quan quản lý giáo dục địa phương. Văn bản đồng thời quy định không tổ chức khảo sát, kiểm tra, đánh giá lại kết quả học tập đối với học sinh đã được công nhận hoàn thành chương trình tiểu học khi chuyển cấp; việc tuyển sinh vào lớp 6 thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Nội dung này cần được hiểu đúng phạm vi. Việc không tổ chức khảo sát, kiểm tra, đánh giá lại kết quả học tập của học sinh đã được công nhận hoàn thành chương trình tiểu học không đồng nghĩa với việc mọi hình thức tuyển sinh vào lớp 6 đều bị bãi bỏ hoặc mọi cơ sở giáo dục đều không được thực hiện các quy trình tuyển sinh theo quy định riêng.
Đối với phụ huynh, thông tin này giúp phân biệt giữa việc bàn giao kết quả học tập từ cấp tiểu học và thủ tục tuyển sinh ở cấp trung học cơ sở. Đối với nhà trường, đây là căn cứ để tránh tổ chức thêm hoạt động đánh giá lại kết quả học tập chỉ nhằm thay thế cho quy trình chuyển giao hồ sơ đã được thực hiện đúng quy định.
Trong thực tiễn, nếu có yêu cầu khảo sát hoặc kiểm tra trong quá trình tuyển sinh, nhà trường cần xác định rõ căn cứ pháp lý, mục đích và phạm vi áp dụng của hoạt động đó. Không nên tự động đồng nhất mọi bài khảo sát đầu vào với việc đánh giá lại kết quả học tập đã được công nhận, cũng không nên sử dụng quy định về bàn giao dữ liệu để bỏ qua các yêu cầu tuyển sinh hợp pháp khác.
Điều 2 của văn bản sửa đổi Điều 8 trong Quy định đánh giá học sinh tiểu học, trong đó nêu nguyên tắc đánh giá học sinh khuyết tật phải bảo đảm tính nhân văn, khách quan và công bằng trên cơ sở kế hoạch giáo dục cá nhân. Việc đánh giá phải bảo đảm khả năng tiếp cận phù hợp với dạng tật, mức độ khuyết tật, hướng đến sự tiến bộ của học sinh và kịp thời động viên những nỗ lực vượt khó.
Đây là nguyên tắc quan trọng vì học sinh khuyết tật có thể có nhu cầu hỗ trợ, khả năng tiếp cận và điều kiện thể hiện kết quả học tập khác nhau. Nếu sử dụng một hình thức đánh giá không phù hợp với khả năng tiếp cận của học sinh, kết quả thu được có thể phản ánh trở ngại về phương tiện hoặc cách thức thực hiện nhiều hơn là mức độ đạt được mục tiêu giáo dục.
Kế hoạch giáo dục cá nhân vì thế không chỉ có ý nghĩa trong quá trình tổ chức dạy học mà còn là căn cứ xác định nội dung, cách thức và phạm vi đánh giá phù hợp. Giáo viên cần dựa vào kế hoạch này để xác định những mục tiêu học tập học sinh có thể tham gia, những nội dung cần điều chỉnh và những kỹ năng đặc thù cần theo dõi.
Ví dụ, một học sinh có khó khăn về vận động có thể hiểu tốt kiến thức Toán nhưng gặp trở ngại khi phải viết nhiều trong thời gian ngắn. Trong trường hợp phù hợp với kế hoạch giáo dục cá nhân và quy định hiện hành, giáo viên cần xem xét cách tổ chức đánh giá để học sinh có cơ hội thể hiện năng lực thực chất, thay vì để khó khăn vận động làm sai lệch kết quả đánh giá.
Văn bản quy định việc đánh giá học sinh khuyết tật dựa trên sự tiến bộ của chính bản thân học sinh và không so sánh kết quả đánh giá của học sinh khuyết tật với các học sinh khác.
Quy định này nhấn mạnh rằng công bằng trong giáo dục không phải lúc nào cũng có nghĩa là mọi học sinh phải được đánh giá bằng một cách thức hoàn toàn giống nhau. Công bằng còn đòi hỏi giáo viên phải xem xét điều kiện tiếp cận, mục tiêu giáo dục cá nhân và mức độ tiến bộ của từng học sinh để đưa ra nhận định phù hợp.
Trong quá trình theo dõi, giáo viên nên quan tâm đến những thay đổi có thể quan sát được, chẳng hạn học sinh chủ động hơn khi tham gia hoạt động, thực hiện được một kỹ năng trước đây còn khó khăn hoặc hoàn thành nhiệm vụ với mức hỗ trợ giảm dần. Những biểu hiện này cung cấp thông tin thiết thực để điều chỉnh việc dạy học và động viên học sinh tiếp tục cố gắng.
Tuy nhiên, không so sánh với học sinh khác không có nghĩa là bỏ qua mục tiêu giáo dục hoặc đánh giá theo cảm tính. Giáo viên vẫn cần căn cứ vào kế hoạch giáo dục cá nhân, minh chứng học tập và yêu cầu phù hợp để nhận định tiến bộ một cách khách quan, nhất quán và có khả năng giải thích khi cần thiết.
Theo Điều 8 được sửa đổi, nội dung đánh giá đối với học sinh khuyết tật bao gồm những nội dung giáo dục, học tập được xây dựng trong kế hoạch giáo dục cá nhân. Các nội dung này gồm kết quả học tập môn học, hoạt động giáo dục, sự hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực hoặc kết quả rèn luyện, cùng kết quả thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng đặc thù nếu có.
Điểm đáng chú ý là việc đánh giá không chỉ giới hạn ở kết quả học tập của từng môn học. Khi kế hoạch giáo dục cá nhân có xác định các mục tiêu về kỹ năng đặc thù, giáo viên cần theo dõi và đánh giá việc thực hiện những nội dung đó theo quy định, qua đó phản ánh đầy đủ hơn quá trình phát triển của học sinh.
Đối với môn học và hoạt động giáo dục mà học sinh có khả năng tham gia theo nội dung được xác định trong kế hoạch giáo dục cá nhân, việc đánh giá thực hiện theo quy định chung trên cơ sở nội dung giáo dục trong kế hoạch. Đối với môn học hoặc hoạt động giáo dục mà học sinh được miễn theo kế hoạch giáo dục cá nhân, văn bản quy định học sinh được miễn kiểm tra, đánh giá và ghi “Miễn” trong Học bạ số.
Quy định này giúp phân biệt rõ giữa việc điều chỉnh nội dung đánh giá và việc miễn đánh giá đối với những nội dung đã được xác định miễn trong kế hoạch giáo dục cá nhân. Giáo viên không nên tự ý mở rộng phạm vi miễn đánh giá ngoài căn cứ được quy định, cũng không nên yêu cầu học sinh thực hiện những nội dung đã được miễn theo kế hoạch.
Bản PDF quy định kết quả thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng đặc thù của học sinh khuyết tật, nếu có, được đánh giá như một hoạt động giáo dục. Kết quả này được thể hiện trong Học bạ số tại mục “Hoạt động giáo dục kỹ năng đặc thù”.
Đây là nội dung cần được chú ý khi xây dựng kế hoạch đánh giá và hoàn thiện hồ sơ. Nếu kỹ năng đặc thù là một phần của kế hoạch giáo dục cá nhân, giáo viên cần có cách theo dõi phù hợp để kết quả đánh giá không bị bỏ sót trong quá trình tổng hợp cuối kỳ hoặc cuối năm học.
Chẳng hạn, nếu kế hoạch giáo dục cá nhân xác định mục tiêu rèn luyện một kỹ năng hỗ trợ giao tiếp hoặc khả năng tự phục vụ, giáo viên cần theo dõi mức độ thực hiện mục tiêu theo các hoạt động phù hợp. Việc nhận xét nên dựa trên biểu hiện thực tế, xác định học sinh đã thực hiện được gì và cần tiếp tục hỗ trợ ở nội dung nào.
Cách đánh giá này cũng giúp phụ huynh hiểu rõ hơn ý nghĩa của các mục tiêu giáo dục cá nhân. Thay vì chỉ nhìn vào kết quả môn học, gia đình có thể phối hợp với giáo viên để duy trì những kỹ năng học sinh đang hình thành và tạo thêm cơ hội luyện tập trong các tình huống phù hợp.
Thông tư cho phép kết hợp đánh giá thường xuyên với đánh giá định kỳ như quy định chung, đồng thời yêu cầu điều chỉnh linh hoạt hình thức, phương pháp và công cụ để phù hợp với khả năng tiếp cận của học sinh khuyết tật. Giáo viên có thể điều chỉnh số lượng câu hỏi và thời gian làm bài theo tình trạng thể lực, tình trạng khuyết tật; tăng cường quan sát, đánh giá qua sản phẩm học tập và hồ sơ học tập của học sinh.
Đối với học sinh khuyết tật nhìn, khi cần thiết, đề bài kiểm tra định kỳ và bài làm có thể được chuyển đổi sang chữ nổi Braille, sử dụng công nghệ hỗ trợ, tệp âm thanh hoặc phần mềm đọc màn hình. Văn bản cũng cho phép sử dụng hình thức vấn đáp, thực hành hoặc hình thức phù hợp khác theo quyết định của người đứng đầu cơ sở giáo dục trên cơ sở đề xuất của tổ chuyên môn.
Đối với học sinh khuyết tật nghe, nói, các nội dung kiểm tra kỹ năng nghe, nói hoặc vấn đáp có thể được thay thế bằng bài viết, bài trắc nghiệm, bài thực hành thông qua ngôn ngữ ký hiệu hoặc hình thức phù hợp với tình trạng khuyết tật. Việc lựa chọn hình thức cần theo đúng thẩm quyền và căn cứ chuyên môn được văn bản nêu, thay vì chỉ dựa vào quyết định cá nhân của giáo viên trực tiếp giảng dạy.
Trong thực tế, điều chỉnh đánh giá cần được thực hiện có mục đích và có căn cứ. Nếu mục tiêu là đánh giá khả năng hiểu một nội dung kiến thức, giáo viên cần lựa chọn cách thức giúp học sinh tiếp cận và thể hiện hiểu biết của mình; nhưng nếu kỹ năng đang được đánh giá chính là một thành phần của yêu cầu cần đạt thì không thể tùy tiện loại bỏ thành phần đó mà không xem xét quy định và kế hoạch giáo dục cá nhân.
Điều 8 được sửa đổi không chỉ đề cập đến học sinh khuyết tật mà còn quy định cách đánh giá học sinh học tại lớp dành cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, không có điều kiện đi học ở trường. Đây là nhóm đối tượng cần được đánh giá dựa trên điều kiện học tập thực tế, đồng thời vẫn phải bảo đảm căn cứ và quy trình đánh giá theo quy định.
Theo nội dung văn bản, giáo viên căn cứ vào nhận xét, đánh giá thường xuyên qua các buổi học tại lớp và kết quả đánh giá định kỳ môn Toán, môn Tiếng Việt để đánh giá học sinh. Việc đánh giá định kỳ được thực hiện theo quy định tại Điều 7 của Quy định đánh giá học sinh tiểu học.
Cách quy định này cho thấy kết quả đánh giá cần được hình thành từ quá trình theo dõi thường xuyên kết hợp với kết quả đánh giá định kỳ, chứ không chỉ dựa vào một bài kiểm tra riêng lẻ. Giáo viên cần lưu giữ thông tin về việc tham gia học tập, mức độ hoàn thành nhiệm vụ và những tiến bộ có thể quan sát được trong các buổi học.
Trong điều kiện học tập không giống với lớp học phổ thông thông thường, việc tổ chức đánh giá cần bám sát nội dung và khả năng tham gia học tập thực tế của học sinh. Tuy nhiên, giáo viên không nên tự suy diễn rằng hoàn cảnh khó khăn đồng nghĩa với việc học sinh được miễn toàn bộ yêu cầu đánh giá, bởi văn bản vẫn quy định căn cứ đánh giá và việc thực hiện đánh giá định kỳ theo quy định.
Một hướng thực hiện thiết thực là xây dựng kế hoạch theo dõi thường xuyên, ghi nhận rõ nội dung đã học và kết quả thực hiện nhiệm vụ của từng học sinh. Khi đến thời điểm đánh giá định kỳ, giáo viên có thể đối chiếu các minh chứng đã có để nhận định chính xác hơn, đồng thời xác định những nội dung học sinh cần tiếp tục được hỗ trợ.
Điều 7 của văn bản sửa đổi Điều 14, quy định Sở Giáo dục và Đào tạo trực tiếp quản lý, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ và kiểm tra việc thực hiện đánh giá học sinh tiểu học tại các cơ sở giáo dục có cấp tiểu học trên địa bàn. Sở còn có trách nhiệm hướng dẫn sử dụng hồ sơ đánh giá, kiểm tra việc nghiệm thu và bàn giao kết quả giáo dục, đồng thời hướng dẫn quản lý, khai thác và sử dụng Học bạ số.
Việc xác định rõ vai trò này giúp phân biệt trách nhiệm hướng dẫn chuyên môn với trách nhiệm bảo đảm điều kiện triển khai ở cấp địa phương. Khi giáo viên hoặc nhà trường gặp vướng mắc liên quan đến cách thực hiện một quy định, việc xử lý cần theo đúng thẩm quyền và hướng dẫn chuyên môn, tránh tình trạng mỗi trường tự xây dựng cách hiểu khác nhau đối với cùng một nội dung.
Một nội dung đáng chú ý là Sở Giáo dục và Đào tạo được giao chủ trì xây dựng, thẩm định và cung cấp đề kiểm tra định kỳ cuối học kỳ I và cuối năm học chung cho các cơ sở giáo dục có cấp tiểu học trên địa bàn đối với một số môn học đánh giá bằng điểm số của học sinh lớp 5 do Sở lựa chọn. Các môn học được lựa chọn phải được thông báo trước khi tổ chức thực hiện; đề kiểm tra phải phù hợp với yêu cầu cần đạt của Chương trình giáo dục phổ thông và bảo đảm tính thống nhất giữa các cơ sở giáo dục cùng cấp học.
Quy định này không có nghĩa là tất cả các môn học lớp 5 đều mặc nhiên sử dụng đề chung do Sở cung cấp. Phạm vi áp dụng phụ thuộc vào các môn được Sở lựa chọn và thông báo, vì vậy giáo viên cần theo dõi hướng dẫn chính thức của địa phương để xác định môn học, thời điểm kiểm tra và yêu cầu tổ chức cụ thể.
Theo văn bản, UBND cấp xã có trách nhiệm tổ chức phổ biến, triển khai quy định đến các cơ sở giáo dục có cấp tiểu học thuộc phạm vi quản lý. Đồng thời, cơ quan này phải bảo đảm điều kiện về đội ngũ, cơ sở vật chất, thiết bị và hạ tầng công nghệ thông tin để nhà trường thực hiện đánh giá học sinh, quản lý và sử dụng Học bạ số.
Đây là điểm gắn hoạt động đánh giá học sinh với điều kiện tổ chức thực hiện tại địa phương. Một quy trình đánh giá điện tử chỉ có thể vận hành hiệu quả khi nhà trường có thiết bị phù hợp, hạ tầng kỹ thuật đáp ứng yêu cầu và đội ngũ được hướng dẫn đầy đủ về nghiệp vụ.
UBND cấp xã còn có trách nhiệm kiểm tra việc tuân thủ pháp luật về đánh giá học sinh, quản lý hồ sơ đánh giá và theo dõi việc cập nhật, quản lý, khai thác, sử dụng dữ liệu Học bạ số. Khi phát sinh khó khăn về điều kiện bảo đảm thực hiện, cơ quan này xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị Sở Giáo dục và Đào tạo giải quyết những vấn đề thuộc chuyên môn, nghiệp vụ.
Với nhà trường, việc xác định đúng đầu mối hỗ trợ sẽ giúp giải quyết vấn đề nhanh và chính xác hơn. Những vướng mắc về thiết bị, hạ tầng hoặc điều kiện triển khai cần được phản ánh theo tuyến quản lý phù hợp, trong khi các câu hỏi về nội dung đánh giá và cách thực hiện chuyên môn cần được hướng dẫn bởi cơ quan có thẩm quyền về chuyên môn.
Hiệu trưởng giữ vai trò tổ chức thực hiện và bảo đảm chất lượng đánh giá học sinh tại nhà trường. Theo các điều khoản được sửa đổi, trách nhiệm này bao gồm việc nghiệm thu, bàn giao kết quả giáo dục, tổ chức các bước liên quan đến đánh giá học sinh lớp 5, xác nhận kết quả hoàn thành chương trình tiểu học và bảo đảm sự thống nhất giữa hồ sơ đánh giá với dữ liệu Học bạ số.
Một trong những nhiệm vụ thiết thực của hiệu trưởng là xây dựng quy trình nội bộ rõ ràng, xác định người phụ trách từng khâu và thời hạn hoàn thành. Quy trình cần giúp giáo viên biết thời điểm phải cập nhật dữ liệu, cách kiểm tra kết quả, phương thức phối hợp khi phát hiện sai lệch và người có thẩm quyền xác nhận cuối cùng.
Hiệu trưởng cũng cần tổ chức sinh hoạt chuyên môn để giáo viên hiểu đúng những điểm mới, đặc biệt là trách nhiệm ký số và việc bàn giao kết quả giáo dục giữa các lớp. Nếu chỉ triển khai bằng một thông báo chung mà không làm rõ quy trình thực hiện, nguy cơ sai sót do cách hiểu khác nhau giữa các tổ chuyên môn vẫn có thể xảy ra.
Theo nội dung sửa đổi Điều 15 và Điều 16, giáo viên chủ nhiệm có trách nhiệm tổ chức thực hiện các nhiệm vụ đánh giá được phân công, hoàn thiện hồ sơ học sinh, cập nhật thông tin và phối hợp với giáo viên cùng lớp, cha mẹ học sinh trong quá trình đánh giá. Văn bản cũng yêu cầu bảo đảm tính đầy đủ, chính xác và thống nhất của dữ liệu kết quả giáo dục trong phạm vi trách nhiệm liên quan.
Giáo viên chủ nhiệm là người có điều kiện theo dõi tổng thể quá trình học tập và rèn luyện của học sinh, nhưng không vì vậy mà phải tự chịu trách nhiệm thay cho tất cả giáo viên bộ môn đối với mọi kết quả đánh giá. Cách phân công phù hợp là giáo viên môn học chịu trách nhiệm đối với nội dung thuộc môn học, hoạt động giáo dục được giao, còn giáo viên chủ nhiệm thực hiện nhiệm vụ tổng hợp, phối hợp và xác nhận theo quy định.
Đối với công việc cuối năm, giáo viên chủ nhiệm cần kiểm tra tính đầy đủ của hồ sơ, đối chiếu nhận xét và kết quả tổng hợp, rà soát thông tin khen thưởng, đồng thời phối hợp với giáo viên bộ môn để xử lý những dữ liệu còn thiếu. Việc chuẩn bị theo từng giai đoạn giúp giảm áp lực vào cuối năm và hạn chế lỗi phát sinh do phải cập nhật quá nhiều thông tin trong thời gian ngắn.
Giáo viên bộ môn chịu trách nhiệm về tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu kết quả học tập thuộc môn học và hoạt động giáo dục được phân công, đồng thời trực tiếp ký số xác nhận kết quả theo nội dung được Báo Điện tử Chính phủ thông tin.
baochinhphu.vn
Trong thực tế, giáo viên bộ môn cần bảo đảm kết quả được nhập đúng học sinh, đúng môn học, đúng thời điểm và thống nhất với kết quả đánh giá đã thực hiện. Nếu phát hiện dữ liệu chưa đầy đủ hoặc có sự không thống nhất giữa các nguồn, giáo viên cần phối hợp với giáo viên chủ nhiệm và bộ phận phụ trách hệ thống để kiểm tra, điều chỉnh theo quy trình.
Việc ký số cũng đòi hỏi giáo viên quan tâm đến bảo mật tài khoản và thực hiện đúng quy trình xác thực. Không nên chia sẻ thông tin xác thực hoặc để người khác sử dụng tài khoản ký số thay mình, bởi điều đó làm suy giảm khả năng xác định trách nhiệm đối với dữ liệu đã được xác nhận.
Một điểm mới đáng chú ý trong văn bản là trách nhiệm của Sở Giáo dục và Đào tạo trong việc xây dựng, thẩm định và cung cấp đề kiểm tra định kỳ chung vào cuối học kỳ I và cuối năm học cho một số môn học đánh giá bằng điểm số của học sinh lớp 5. Phạm vi môn học do Sở lựa chọn và thông báo cho các cơ sở giáo dục trước khi tổ chức thực hiện.
Mục đích của đề chung là bảo đảm sự phù hợp với yêu cầu cần đạt của Chương trình giáo dục phổ thông, đồng thời tăng cường tính thống nhất giữa các trường cùng cấp học trên địa bàn. Khi được triển khai đúng cách, cơ chế này có thể hỗ trợ việc kiểm tra, đánh giá theo chuẩn chung và tạo điều kiện để cơ quan quản lý theo dõi chất lượng giáo dục một cách có hệ thống.
Tuy nhiên, đề chung không đồng nghĩa với việc mọi nội dung dạy học ở các trường phải được tổ chức giống nhau hoàn toàn. Giáo viên vẫn cần thực hiện chương trình, tổ chức dạy học và đánh giá thường xuyên theo yêu cầu chuyên môn; việc ôn tập cần hướng đến năng lực thực chất của học sinh, thay vì chỉ tập trung luyện những dạng câu hỏi được dự đoán sẽ xuất hiện trong đề kiểm tra.
Theo nội dung sửa đổi Điều 15, nhà trường tổ chức kiểm tra định kỳ cuối học kỳ I và cuối năm học đối với học sinh lớp 5 theo đề chung do Sở cung cấp ở những môn học được lựa chọn. Đối với các môn học, thời điểm kiểm tra và khối lớp còn lại, nhà trường tổ chức ra đề theo quy định; việc coi, chấm, nhận xét và tổng hợp kết quả phải bảo đảm khách quan, công bằng, thực chất.
Điều này có nghĩa là việc sử dụng đề chung không chuyển toàn bộ trách nhiệm đánh giá từ nhà trường sang cơ quan cung cấp đề. Nhà trường vẫn chịu trách nhiệm về quá trình tổ chức kiểm tra, chấm bài, tổng hợp kết quả và chất lượng đánh giá học sinh của mình.
Giáo viên cần bảo đảm việc chấm bài và nhận xét bám sát yêu cầu cần đạt, không để yếu tố chủ quan hoặc áp lực thành tích làm sai lệch kết quả. Nếu có tình huống bất thường như bài làm thiếu trang, thông tin học sinh chưa chính xác hoặc kết quả nhập trên hệ thống khác với kết quả đã chấm, cần kiểm tra và xử lý theo quy trình trước khi hoàn thiện hồ sơ.
Đề kiểm tra chung có thể tạo điều kiện thống nhất về nội dung và mức độ yêu cầu ở những môn học được lựa chọn. Tuy nhiên, chất lượng đánh giá không chỉ phụ thuộc vào việc các trường sử dụng cùng một đề mà còn phụ thuộc vào cách tổ chức, cách chấm, việc bảo đảm điều kiện kiểm tra và việc sử dụng kết quả để hỗ trợ học sinh.
Đối với giáo viên, kết quả kiểm tra định kỳ cần được nhìn nhận như một nguồn thông tin giúp xác định mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt và những nội dung học sinh cần củng cố. Nếu chỉ sử dụng kết quả để so sánh giữa các lớp hoặc tạo áp lực thành tích, mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục có thể bị ảnh hưởng.
Một cách thực hiện phù hợp là sau khi có kết quả, giáo viên phân tích những nội dung học sinh làm tốt, những dạng nhiệm vụ còn khó khăn và các lỗi phổ biến cần khắc phục. Việc phân tích này giúp điều chỉnh kế hoạch dạy học, thiết kế hoạt động bổ trợ và hỗ trợ học sinh theo nhu cầu thực tế, thay vì chỉ dừng lại ở việc công bố kết quả.
Việc đưa Học bạ số vào hồ sơ đánh giá học sinh có thể giúp việc lưu trữ, tra cứu và chuyển giao dữ liệu thuận tiện hơn. Tuy nhiên, chuyển đổi số trong giáo dục chỉ thực sự có ý nghĩa khi thông tin được quản lý thống nhất, người chịu trách nhiệm được xác định rõ và dữ liệu có thể được sử dụng để phục vụ công tác chuyên môn.
Nếu chỉ chuyển thông tin từ giấy sang phần mềm nhưng không cải thiện quy trình kiểm tra, đối chiếu và xác nhận, những sai sót vốn có trong hồ sơ giấy vẫn có thể xuất hiện trong môi trường số. Vì vậy, việc triển khai Học bạ số cần đi cùng với quy trình quản trị dữ liệu, hướng dẫn sử dụng hệ thống và cơ chế hỗ trợ giáo viên khi gặp vấn đề kỹ thuật.
Đối với nhà trường, một quy trình điện tử hiệu quả nên giúp giảm việc nhập liệu lặp lại, hạn chế sai sót và tăng khả năng kiểm tra tính thống nhất giữa các thành phần hồ sơ. Đối với giáo viên, hệ thống cần hỗ trợ công việc chuyên môn chứ không tạo ra thêm những bước thủ tục không cần thiết do thiếu hướng dẫn hoặc do quy trình nội bộ chưa được chuẩn hóa.
Văn bản nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm kết quả đánh giá đầy đủ, chính xác, kịp thời và thống nhất giữa hồ sơ đánh giá học sinh, Học bạ số và dữ liệu quản lý của nhà trường. Đây là yêu cầu xuyên suốt, có liên quan trực tiếp đến trách nhiệm của hiệu trưởng, giáo viên chủ nhiệm và giáo viên môn học.
Tính chính xác có nghĩa là dữ liệu phải phản ánh đúng kết quả đánh giá đã được xác định; tính đầy đủ đòi hỏi không bỏ sót những thông tin thuộc phạm vi phải cập nhật; tính kịp thời yêu cầu hoàn thành theo thời điểm quy định; còn tính thống nhất đòi hỏi các thành phần hồ sơ liên quan không mâu thuẫn với nhau.
Ví dụ, nếu kết quả một môn học đã được giáo viên xác nhận nhưng bảng tổng hợp của lớp chưa phản ánh kết quả đó, nhà trường cần xác định nguyên nhân và xử lý trước khi hoàn tất quy trình. Tương tự, nếu thông tin về thành tích khen thưởng đã được cập nhật nhưng chưa có căn cứ xác nhận phù hợp, giáo viên cần kiểm tra lại thay vì mặc nhiên coi dữ liệu trên hệ thống là chính xác.
Học bạ số chứa những thông tin liên quan đến quá trình học tập và đánh giá của từng học sinh. Vì vậy, việc quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu cần tuân thủ quy định hiện hành về hồ sơ giáo dục, quản lý Học bạ số và các yêu cầu pháp luật có liên quan.
Giáo viên cần sử dụng tài khoản đúng thẩm quyền, hạn chế chia sẻ dữ liệu học sinh qua những kênh không phù hợp và thực hiện các bước xác thực theo hướng dẫn của hệ thống. Đối với những tài liệu chứa thông tin cá nhân, việc sao chép, gửi hoặc lưu trữ cần phục vụ mục đích công việc hợp pháp và được thực hiện theo quy trình của nhà trường.
Nhà trường cũng cần có phương án xử lý khi phát hiện dữ liệu sai, tài khoản gặp sự cố hoặc thông tin bị truy cập không phù hợp. Một hệ thống số chỉ có thể hỗ trợ quản lý hiệu quả khi vừa bảo đảm khả năng truy cập của người có trách nhiệm, vừa hạn chế nguy cơ mất mát, sai lệch hoặc sử dụng dữ liệu ngoài mục đích được phép.
Cần phân biệt nội dung quy định về Học bạ số ở cấp tiểu học với các điều khoản chuyển tiếp liên quan đến hồ sơ giấy ở cấp trung học trong cùng văn bản. Bản PDF nêu những hướng dẫn cụ thể về việc tiếp tục sử dụng Học bạ giấy trong thời gian chuyển tiếp đối với cấp trung học cơ sở và trung học phổ thông, đồng thời quy định việc quản lý Học bạ số theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Vì vậy, giáo viên tiểu học không nên tự suy diễn rằng mọi hồ sơ giấy đang được lưu trữ tại trường đều có thể lập tức loại bỏ khi Học bạ số được triển khai. Việc lập, quản lý, lưu trữ và sử dụng hồ sơ cần tuân thủ quy định áp dụng cho từng loại tài liệu và hướng dẫn chính thức của cơ quan có thẩm quyền.
Trong trường hợp nhà trường đang chuyển đổi từ hồ sơ giấy sang hồ sơ số, cần xác định rõ loại hồ sơ nào được lập trên hệ thống, hồ sơ nào phải tiếp tục lưu trữ và quy trình xử lý dữ liệu lịch sử. Cách làm này giúp tránh mất thông tin, hạn chế việc lưu trữ trùng lặp không cần thiết và bảo đảm khả năng tra cứu khi phát sinh yêu cầu chuyên môn hoặc quản lý.
Việc đầu tiên giáo viên nên thực hiện là xác định chính xác những điều, khoản của Thông tư 27 được sửa đổi trong Thông tư 89. Không nên chỉ đọc các bài tóm tắt hoặc danh sách điểm mới mà bỏ qua nội dung nguyên văn, bởi những khác biệt nhỏ về đối tượng áp dụng, điều kiện thực hiện hoặc thẩm quyền quyết định có thể ảnh hưởng trực tiếp đến cách vận dụng.
Giáo viên có thể lập bảng đối chiếu gồm ba cột: quy định trước đây, nội dung sửa đổi và việc cần thực hiện trong thực tế. Cách làm này giúp tổ chuyên môn thảo luận cụ thể hơn, đồng thời tránh nhầm lẫn giữa nội dung được quy định trực tiếp trong văn bản với những đề xuất triển khai của nhà trường.
Đặc biệt, những nội dung liên quan đến Học bạ số, ký số, bàn giao kết quả giáo dục và đánh giá học sinh khuyết tật cần được đọc kỹ. Đây là các nhóm vấn đề vừa liên quan đến nghiệp vụ đánh giá, vừa gắn với trách nhiệm quản lý dữ liệu và quyền lợi học tập của học sinh.
Nhà trường nên kiểm tra quy trình hiện hành để xác định rõ giáo viên nào cập nhật kết quả môn học, ai thực hiện ký số, khi nào giáo viên chủ nhiệm xác nhận Học bạ số và bộ phận nào chịu trách nhiệm kiểm tra tính thống nhất của dữ liệu. Các bước này cần được mô tả rõ ràng để giáo viên không phải tự phỏng đoán hoặc thực hiện theo thói quen khác nhau giữa các lớp.
Trong quá trình cập nhật, giáo viên nên đối chiếu thông tin với kết quả đánh giá đã được xác định, kiểm tra danh sách học sinh và rà soát các trường dữ liệu cần hoàn thiện. Nếu phát hiện lỗi, cần xác định đúng vị trí phát sinh và thực hiện điều chỉnh theo quy trình, tránh sửa dữ liệu trực tiếp ở nhiều thành phần mà không có sự kiểm tra thống nhất.
Nhà trường cũng nên có hướng dẫn ngắn gọn về các tình huống thường gặp, chẳng hạn quên cập nhật thông tin, nhập nhầm kết quả, thiếu xác nhận của giáo viên môn học hoặc gặp lỗi khi ký số. Hướng dẫn rõ ràng giúp tiết kiệm thời gian, hạn chế sai sót và giảm áp lực cho giáo viên trong các giai đoạn cao điểm của năm học.
Đối với giáo viên chủ nhiệm lớp 1 đến lớp 4, việc bàn giao cần chú trọng những thông tin giúp giáo viên năm học tiếp theo hiểu rõ tình hình học tập và nhu cầu hỗ trợ của từng học sinh. Đối với lớp 5, việc chuẩn bị cần gắn với quy trình kiểm tra định kỳ cuối năm, hoàn thiện hồ sơ, xác nhận kết quả hoàn thành chương trình tiểu học và chuyển giao dữ liệu.
Một hồ sơ bàn giao có giá trị không chỉ ghi lại học sinh đạt kết quả gì mà còn cung cấp thông tin hữu ích cho việc tổ chức dạy học tiếp theo. Giáo viên nên ưu tiên những nhận xét cụ thể, có căn cứ và liên quan đến mục tiêu giáo dục, thay vì sử dụng các mô tả chung chung khó chuyển thành hành động hỗ trợ.
Chẳng hạn, thay vì chỉ ghi học sinh “cần cố gắng môn Toán”, giáo viên có thể nêu rõ học sinh thực hiện tốt phép tính trong phạm vi đã học nhưng còn lúng túng khi giải toán có lời văn, cần tiếp tục rèn kỹ năng xác định dữ kiện và lựa chọn phép tính. Những nhận xét như vậy giúp giáo viên tiếp nhận xây dựng kế hoạch hỗ trợ sát hơn với nhu cầu thực tế.
Việc phân định trách nhiệm ký số và cập nhật dữ liệu khiến sự phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với giáo viên môn học trở nên quan trọng hơn. Nếu mỗi người chỉ hoàn thành phần việc riêng mà không kiểm tra sự thống nhất giữa các thông tin liên quan, hồ sơ của học sinh vẫn có thể thiếu dữ liệu hoặc xuất hiện những điểm chưa phù hợp.
Nhà trường nên thống nhất thời điểm hoàn thành cập nhật dữ liệu, thời hạn rà soát và cách thông báo khi phát hiện sai sót. Giáo viên chủ nhiệm cần có kênh trao đổi rõ ràng với giáo viên bộ môn để kiểm tra những trường hợp cần xác minh, đồng thời tránh việc nhắc nhở trùng lặp hoặc yêu cầu chỉnh sửa thiếu căn cứ.
Sự phối hợp hiệu quả không chỉ giúp hoàn thiện hồ sơ mà còn hỗ trợ giáo viên hiểu đầy đủ hơn về quá trình học tập của học sinh. Khi các thông tin đánh giá được trao đổi đúng cách, giáo viên có thể phát hiện những khó khăn liên môn, điều chỉnh phương pháp dạy học và phối hợp hỗ trợ học sinh kịp thời hơn.
Giáo viên có học sinh khuyết tật cần rà soát kế hoạch giáo dục cá nhân để xác định rõ mục tiêu học tập, hoạt động giáo dục có thể tham gia, nội dung được miễn nếu có và những kỹ năng đặc thù cần đánh giá. Việc rà soát này giúp giáo viên lựa chọn hình thức đánh giá phù hợp, bảo đảm học sinh có khả năng tiếp cận nhiệm vụ và thể hiện kết quả thực chất.
Nếu cần điều chỉnh số lượng câu hỏi, thời gian làm bài hoặc sử dụng công cụ hỗ trợ, giáo viên cần căn cứ vào tình trạng thực tế và quy định áp dụng. Đối với những hình thức thay thế thuộc thẩm quyền quyết định của người đứng đầu cơ sở giáo dục trên cơ sở đề xuất của tổ chuyên môn, cần thực hiện đúng quy trình thay vì tự quyết định ngoài phạm vi được giao.
Trong quá trình đánh giá, giáo viên nên lưu giữ minh chứng phù hợp để theo dõi sự tiến bộ của học sinh qua từng giai đoạn. Minh chứng có thể là sản phẩm học tập, kết quả thực hành, ghi nhận quan sát hoặc hồ sơ học tập, tùy theo nội dung cần đánh giá và khả năng tiếp cận của học sinh.
Một buổi sinh hoạt chuyên môn hiệu quả nên tập trung vào những tình huống cụ thể thay vì chỉ đọc lại toàn bộ văn bản. Chẳng hạn, tổ chuyên môn có thể thảo luận cách xử lý dữ liệu Học bạ số chưa thống nhất, quy trình ký số giữa giáo viên môn học và giáo viên chủ nhiệm, hoặc cách bàn giao học sinh có nhu cầu hỗ trợ đặc thù.
Qua các tình huống này, giáo viên có cơ hội làm rõ trách nhiệm của từng vị trí và thống nhất cách thực hiện trong toàn trường. Những nội dung chưa được văn bản quy định chi tiết cần được tổng hợp để xin hướng dẫn từ cơ quan có thẩm quyền, thay vì tự xây dựng quy định có thể mâu thuẫn với văn bản hiện hành.
Sau sinh hoạt chuyên môn, nhà trường nên lưu lại hướng dẫn nội bộ và các điểm thống nhất để giáo viên thuận tiện tra cứu. Đây cũng là cách giúp giáo viên mới hoặc giáo viên được phân công công việc khác có thể tiếp cận quy trình nhanh hơn, hạn chế sự phụ thuộc vào truyền đạt miệng.
Đây là một cách hiểu không chính xác về bản chất của văn bản sửa đổi, bổ sung. Theo bản PDF, Thông tư 89 chỉ sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT, vì vậy những nội dung không bị sửa đổi vẫn cần được xem xét theo hệ thống quy định áp dụng.
Khi triển khai, giáo viên cần xác định rõ điều khoản được thay thế và điều khoản tiếp tục có hiệu lực theo quy định. Nếu có nội dung chưa rõ về mối quan hệ giữa các văn bản, nên đối chiếu bản chính thức và hướng dẫn của cơ quan quản lý thay vì suy luận từ tiêu đề hoặc một bài viết tóm tắt.
Học bạ số liên quan đến kết quả đánh giá ở nhiều môn học và hoạt động giáo dục, do đó trách nhiệm không chỉ thuộc về giáo viên chủ nhiệm. Văn bản và thông tin công bố chính thức nhấn mạnh vai trò của giáo viên môn học trong việc bảo đảm tính chính xác, đầy đủ của dữ liệu được phân công và ký số xác nhận kết quả môn học.
Nếu giáo viên chủ nhiệm tự cập nhật hoặc điều chỉnh toàn bộ dữ liệu thay cho các giáo viên có trách nhiệm mà không tuân thủ quy trình, việc phân định trách nhiệm có thể bị sai lệch. Cách thực hiện phù hợp là phối hợp theo đúng phân công, bảo đảm mỗi người xác nhận phần thông tin thuộc trách nhiệm của mình.
Một lỗi khác là coi việc hoàn thiện Học bạ số và bảng tổng hợp kết quả đánh giá như nhiệm vụ hành chính thuần túy. Trên thực tế, hồ sơ đánh giá là nơi phản ánh kết quả giáo dục của học sinh và hỗ trợ việc theo dõi, bàn giao, vì vậy chất lượng dữ liệu quan trọng hơn việc chỉ đánh dấu đã hoàn thành.
Giáo viên cần kiểm tra nội dung nhận xét, đối chiếu kết quả đánh giá và bảo đảm thông tin có căn cứ. Việc ghi nhận chính xác giúp phụ huynh hiểu đúng tình hình học tập của con, đồng thời giúp giáo viên tiếp nhận có cơ sở xây dựng kế hoạch dạy học phù hợp.
Văn bản quy định không tổ chức khảo sát, kiểm tra, đánh giá lại kết quả học tập đối với học sinh đã được công nhận hoàn thành chương trình tiểu học khi chuyển cấp, đồng thời nêu rõ việc tuyển sinh vào lớp 6 thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hai nội dung này phải được đọc cùng nhau để xác định đúng phạm vi áp dụng.
Vì vậy, không nên kết luận rằng mọi thủ tục tuyển sinh vào lớp 6 đều bị loại bỏ, cũng không nên tổ chức một đợt đánh giá lại kết quả học tập đã được công nhận chỉ vì thói quen trước đây. Khi phát sinh tình huống cụ thể, nhà trường cần căn cứ vào quy định tuyển sinh có liên quan và hướng dẫn chính thức của cơ quan quản lý.
Công bằng không đồng nghĩa với việc buộc mọi học sinh thực hiện nhiệm vụ trong điều kiện giống nhau bất kể khả năng tiếp cận. Văn bản yêu cầu điều chỉnh hình thức, phương pháp và công cụ đánh giá phù hợp với dạng tật, mức độ khuyết tật và kế hoạch giáo dục cá nhân của học sinh.
Tuy nhiên, sự linh hoạt cần có căn cứ, không được biến thành việc đánh giá tùy tiện hoặc tự ý miễn những nội dung không nằm trong phạm vi được miễn. Giáo viên cần kết hợp yêu cầu cần đạt phù hợp, minh chứng học tập và kế hoạch giáo dục cá nhân để bảo đảm vừa tôn trọng học sinh, vừa duy trì tính khách quan của đánh giá.
Không nên hiểu như vậy. Theo bản PDF được cung cấp, văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm theo Thông tư 27, vì vậy cần tiếp tục đối chiếu các điều khoản của văn bản nền tảng và văn bản sửa đổi để xác định quy định áp dụng cho từng trường hợp.
Theo Điều 4 trong tài liệu, hồ sơ đánh giá từng năm học của mỗi học sinh gồm Học bạ số và Bảng tổng hợp kết quả đánh giá giáo dục của lớp. Học bạ số phản ánh nội dung đánh giá theo Phụ lục 1, còn bảng tổng hợp của lớp được lập theo Phụ lục 2 và lưu trữ tại nhà trường.
Không nên hiểu trách nhiệm theo cách đó. Theo nội dung được công bố, giáo viên môn học chịu trách nhiệm về dữ liệu kết quả học tập thuộc môn học, hoạt động giáo dục được phân công và trực tiếp ký số xác nhận kết quả môn học; giáo viên chủ nhiệm ký số xác nhận Học bạ số của lớp sau khi giáo viên môn học hoàn thành ký số.
Theo văn bản, đối với môn học hoặc hoạt động giáo dục mà học sinh khuyết tật được miễn trong kế hoạch giáo dục cá nhân, học sinh được miễn kiểm tra, đánh giá và ghi “Miễn” trong Học bạ số. Việc miễn đánh giá cần căn cứ vào kế hoạch giáo dục cá nhân và quy định áp dụng, không nên tự mở rộng sang những nội dung chưa được xác định miễn.
Có, văn bản quy định giáo viên có thể điều chỉnh số lượng câu hỏi và thời gian làm bài phù hợp với tình trạng thực tế về thể lực và tình trạng khuyết tật của học sinh. Giáo viên cũng được yêu cầu tăng cường sử dụng quan sát, sản phẩm học tập và hồ sơ học tập khi phù hợp với nội dung đánh giá.
Theo nội dung được cung cấp, việc nghiệm thu và bàn giao kết quả giáo dục khi chuyển cấp là hoạt động chuyển giao dữ liệu quản lý; không tổ chức khảo sát, kiểm tra, đánh giá lại kết quả học tập đối với học sinh đã được công nhận hoàn thành chương trình tiểu học. Việc tuyển sinh vào lớp 6 vẫn thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Không. Văn bản quy định Sở Giáo dục và Đào tạo lựa chọn một số môn học đánh giá bằng điểm số để xây dựng, thẩm định và cung cấp đề kiểm tra định kỳ chung, sau đó thông báo cho các cơ sở giáo dục trước khi tổ chức thực hiện. Giáo viên cần theo dõi thông báo chính thức của địa phương để xác định môn học và thời điểm áp dụng cụ thể.
Không nên tự kết luận như vậy chỉ từ quy định về Học bạ số. Việc lập, quản lý, sử dụng và lưu trữ từng loại hồ sơ phải tuân thủ quy định áp dụng cho loại tài liệu đó cùng hướng dẫn chính thức của Bộ Giáo dục và Đào tạo; giáo viên không nên tự ý loại bỏ hồ sơ khi chưa có căn cứ phù hợp.
Thông tư 89/2026/TT-BGDĐT, theo nội dung trong bản PDF được cung cấp và thông tin công bố trên Báo Điện tử Chính phủ, tập trung vào việc sửa đổi một số quy định về đánh giá học sinh ở các cấp học, trong đó có nhiều nội dung đáng chú ý đối với giáo dục tiểu học. Những điểm nổi bật gồm hoàn thiện hồ sơ đánh giá bằng Học bạ số, cập nhật nhận xét và thành tích khen thưởng, phân định trách nhiệm ký số, tăng cường nghiệm thu và bàn giao kết quả giáo dục, đồng thời quy định cụ thể hơn về đánh giá học sinh khuyết tật và học sinh có hoàn cảnh khó khăn.
Đối với giáo viên tiểu học, yêu cầu quan trọng không chỉ là biết điều khoản nào được sửa đổi mà còn phải hiểu đúng ý nghĩa chuyên môn của từng nội dung. Học bạ số cần được quản lý chính xác, việc bàn giao phải hỗ trợ quá trình học tập liên tục của học sinh, trách nhiệm giữa giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn cần được thực hiện rõ ràng, còn hoạt động đánh giá phải hướng đến tính khách quan, công bằng và sự tiến bộ của người học.
Đối với cán bộ quản lý, việc triển khai quy định cần đi kèm với hướng dẫn chuyên môn, quy trình nội bộ, điều kiện công nghệ và cơ chế kiểm tra phù hợp. Đối với phụ huynh, việc hiểu những thay đổi về hồ sơ và đánh giá sẽ giúp phối hợp tốt hơn với nhà trường, đồng thời nắm rõ cách kết quả học tập của con được ghi nhận và chuyển giao.
THẦY CÔ BẤM VÀO ĐÂY TẢI MIỄN PHÍ THONG TƯ 89
Điều cốt lõi là không nên biến các thay đổi về hồ sơ và quy trình thành công việc hành chính tách rời mục tiêu giáo dục. Khi dữ liệu được quản lý đúng, nhận xét có căn cứ, trách nhiệm được phân định rõ và việc bàn giao được thực hiện nghiêm túc, giáo viên sẽ có điều kiện theo dõi học sinh liên tục hơn, phát hiện khó khăn sớm hơn và xây dựng các biện pháp hỗ trợ phù hợp hơn.
Đang online: 1,307
Số lượng thành viên: 60,000